Hợp tác an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Tờ thông tin
Vụ Chính trị – Quân sự (Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ)
Ngày 2 tháng 6 năm 2021

Mối quan hệ hợp tác an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, và hai quốc gia chia sẻ tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở trong tương lai. Quan hệ hợp tác an ninh giữa hai nước được xây dựng dựa trên cam kết chung nhằm làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng và quyết tâm chung nhằm giải quyết các thách thức an ninh khu vực.

Hoa Kỳ và Việt Nam đã tổ chức 11 cuộc Đối thoại về Chính trị, An ninh và Quốc phòng nhằm thảo luận về hợp tác an ninh song phương. Những cuộc đối thoại này đã thúc đẩy mối quan hệ song phương ngày càng phát triển giữa hai quốc gia, đồng thời phản ánh cam kết chung của hai nước đối với một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở và độc lập. Các chủ đề thảo luận bao gồm các vấn đề chiến tranh để lại, an ninh hàng hải, trợ giúp nhân đạo/cứu trợ thảm họa (HARD), hoạt động gìn giữ hòa bình và các sáng kiến quốc tế về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh.

Tháng 3 năm 2018, tàu sân bay USS Carl Vinson đã có chuyến thăm Việt Nam. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tàu sân bay Hoa Kỳ trong hơn 40 năm. Đến ngày 9 tháng 3 năm 2020, tàu sân bay thứ hai của Hoa Kỳ, USS Theodore Roosevelt, đã kết thúc chuyến thăm kéo dài 5 ngày tới Việt Nam sau khi neo đậu tại Đà Nẵng. Các thủy thủ đã tham gia các hoạt động trao đổi văn hóa và dự án phục vụ cộng đồng như làm đồ thủ công, chơi thể thao, trao đổi ngôn ngữ, làm vườn và vẽ tranh, từ đó chứng minh tầm quan trọng của giao lưu nhân dân giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Ngoài ra, hoạt động trao đổi chuyên môn cũng đã diễn ra trong chuyến thăm, tập trung vào việc hợp tác ngăn ngừa dịch bệnh. Sau đó, Đô đốc Aquilino, khi đó là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, cũng đã có buổi tiệc chiêu đãi với các lãnh đạo cấp cao của chính phủ.

Từ năm 2015 đến năm 2019, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã phê chuẩn việc xuất khẩu vĩnh viễn các thiết bị quốc phòng trị giá 32,3 triệu USD với Việt Nam thông qua chương trình Giao dịch Thương mại Trực tiếp (DCS). Cũng trong các năm này, ba hạng mục trong chương trình DCS được xuất khẩu nhiều nhất là: hệ thống điều khiển hỏa lực, laser, hình ảnh và thiết bị dẫn đường (USML hạng mục XII); thiết bị điện tử quân sự (hạng mục XI); súng và các thiết bị liên quan (hạng mục I). Bộ Ngoại giao cũng đã thực hiện các hoạt động trị giá hơn 162 triệu USD trong Giao dịch Quân sự Nước ngoài với Việt Nam.

Trong các tài khóa 2017 đến 2021, Việt Nam đã tiếp nhận các khoản hỗ trợ an ninh song phương trị giá khoảng 60 triệu USD do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ thông qua chương trình Tài trợ Quân sự Nước ngoài (FMF), và hơn 20 triệu USD qua Sáng kiến An ninh Hàng hải Đông Nam Á (SAMSI) thuộc chương trình FMF khu vực của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Cũng từ chương trình FMF, Việt Nam tiếp nhận thêm 81,5 triệu USD trong tài khóa 2018 để hỗ trợ Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

  • Chương trình FMF chủ yếu hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực về an ninh hàng hải/nhận thức vấn đề hàng hải. Các dự án trọng điểm đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam bao gồm việc chuyển giao, tân trang và bảo trì lâu dài hai tàu tuần tra đã qua sử dụng của lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ theo chương trình chuyển giao Trang bị Quốc phòng Dư thừa (EDA), cũng như việc chuyển giao xuồng tuần tra Metal Shark. Các tàu tuần duyên này đại diện cho những hoạt động chuyển giao quốc phòng quan trọng nhất giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
  • Sáng kiến SAMSI được thiết kế nhằm nâng cao năng lực nhận thức vấn đề hàng hải, giúp tăng cường sự hiện diện của các quốc gia đối tác của Hoa Kỳ trong lãnh hải của họ, đồng thời giúp các quốc gia này bảo vệ các quyền và sự tự do như quy định trong luật biển quốc tế. Việt Nam đã sử dụng nguồn tài trợ của SAMSI để mua các máy bay trinh sát không người lái Scan Eagle.

Chính phủ Hoa Kỳ đang tiếp tục hợp tác với Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề chiến tranh để lại tại Việt Nam. Các hoạt động bao gồm xử lý vật liệu chưa nổ (UXO), xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật và thực hiện hoạt động nhân đạo về tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh (POW/MIA).
Năm 2020 đánh dấu 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam kể từ sau chiến tranh tại Việt Nam. Từ năm 1993, Chính phủ Hoa Kỳ đã đóng góp hơn 166 triệu USD vào các nỗ lực xử lý bom mìn và vật liệu chưa nổ, bao gồm khảo sát và rà phá bom mìn, quản lý thông tin, truyền thông về rủi ro bom mìn, hỗ trợ những người sống sót sau tai nạn bom mìn và xây dựng năng lực cho Trung tâm Hành động bom mìn quốc gia Việt Nam (VNMAC). Các hoạt động hỗ trợ xử lý vật liệu chưa nổ tiếp tục đóng vai trò nền tảng cho quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Thông tin chi tiết về các chương trình nhân đạo đang được các đối tác của chúng tôi thực hiện tại Việt Nam đã có tại báo cáo To Walk The Earth In Safety (Dạo bước an toàn trên Trái đất) của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Việt Nam đã góp phần thực hiện các sứ mệnh gìn giữ hòa bình tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan. Việt Nam cũng là một quốc gia đối tác tích cực trong Sáng kiến Hoạt động Hòa bình Toàn cầu (GPOI) của Hoa Kỳ. Năm 2018, Việt Nam triển khai bệnh viện dã chiến cấp 2 tham gia hoạt động cùng Phái bộ Gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan (UNMISS) với nguồn tài trợ và hỗ trợ từ GPOI. Việt Nam đang trong quá trình cam kết triển khai công binh tới một Phái bộ Liên Hợp Quốc trong tương lai.

Năm 2018, Việt Nam lần đầu tham gia cuộc diễn tập Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC), sau khi cử quan sát viên tới các cuộc diễn tập vào năm 2012 và 2016. RIMPAC là cuộc diễn tập hàng hải quốc tế lớn nhất thế giới do Hoa Kỳ và các đồng minh, đối tác trong và quanh khu vực quần đảo Hawaii và vùng Nam California tổ chức hai năm một lần.

Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ Vụ Chính trị-Quân sự, Văn phòng Quốc hội và Vụ các vấn đề Thông tin – Văn hóa tại PM-CPA@state.gov, và theo dõi Vụ Chính trị-Quân sự trên Twitter@StateDeptPM.