Phát biểu của Đại sứ Daniel J. Kritenbrink tại buổi lễ Kỷ niệm 25 năm quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam được tổ chức bởi Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam

Thứ 6, ngày 07 tháng 10 năm 2020, 6:00 – 8:30 PM

Xin chào các bạn! Chào mừng tới buổi lễ tối ngày hôm nay! Tôi rất hào hứng khi được có mặt ở đây cùng tất các bạn vào tối hôm nay để chúng ta cùng chào mừng lễ kỷ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ-Việt Nam. Tôi muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt tới người bạn thân thiết của tôi, Đại sứ Nguyễn Phương Nga và tất cả các đối tác tại Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO) vì đã long trọng tổ chức sự kiện tối nay và mời tôi tới phát biểu nhân dịp trọng đại này.

Tôi cũng muốn ghi nhận sự có mặt của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam. Thưa Phó Thủ tướng, chúng tôi rất vinh dự được ở đây cùng ngài tại đây tối nay và chúng tôi vô cùng biết ơn những gì mà ngài đã làm cho mối quan hệ đối tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi hết sức vinh dự khi được đảm nhận vai trò là Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam trong năm rất đặc biệt này, một năm đánh dấu cột mốc đáng nhớ trong quan hệ đối tác ngày càng phát triển của chúng ta.

Một trong những người bạn Việt Nam của tôi thường nhắc tôi rằng định mệnh đã an bài cho Hoa Kỳ và Việt Nam trở thành bằng hữu. Tôi thực sự tin tưởng điều đó. Chúng ta rõ ràng có chung một lịch sử đau thương và đã phải vượt qua nhiều thử thách. Dù năm 2020 đánh dấu mốc kỷ niệm 25 năm ngày hai quốc gia trở thành đối tác ngoại giao, nhưng chúng ta cần nhớ rằng năm nay cũng là năm kỷ niệm 75 năm thành lập Hội Việt – Mỹ (VUS), cụ thể tổ chức này đã được thành lập vào ngày 17 tháng 10 năm 1945. Sự kiện thành lập này diễn ra ngay sau khi lực lượng quân đội Hoa Kỳ và Việt Minh hợp tác trong Thế chiến thứ hai ở tỉnh Tuyên Quang, và chỉ 45 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình. Tại buổi lễ, Hồ chủ tịch đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ rằng “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những Quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được Sống, quyền Tự do và quyền mưu cầu Hạnh phúc.”

Nhìn lại lịch sử chung, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập một tổ chức hữu nghị. Điều này đã đặt nền móng cho mối quan hệ đối tác năng động mà chúng ta đang có 75 năm sau đó. Quả thực chúng ta có nhiều điều đáng ăn mừng trong năm nay khi quan hệ đối tác và tình hữu nghị giữa hai nước tiếp tục nở rộ.

Để đạt được tất cả những gì chúng ta có trong một phần tư thế kỷ vừa qua, trước tiên chúng ta đã phải đối mặt với một quá khứ bi thương, đó là những vấn đề chiến tranh để lại và tác động của chúng đối với nhân dân hai nước. Đây là một bước đi đặc biệt quan trọng và là một lĩnh vực mà chúng ta đạt được những tiến bộ đáng kinh ngạc. Trên thực tế, chính nỗ lực thực hiện công tác nhân đạo là tìm kiếm các quân nhân Hoa Kỳ mất tích đã bước đầu mang chúng ta lại gần nhau và đóng vai trò như một “cầu nối để bình thường hóa”. Hôm nay, tôi tự hào tuyên bố rằng các hoạt động hợp tác của chúng ta trong vấn đề nhân đạo và xử lý các vấn đề chiến tranh để lại bao gồm sự hợp tác liên tục với Việt Nam trong việc tìm kiếm các quân nhân Hoa Kỳ mất tích, cũng như sự hỗ trợ của Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ của Việt Nam trong chiến tranh; xử lý ô nhiễm dioxin bao gồm dợ án ở sân bay Biên Hòa; rà phá vật liệu nổ, đặc biệt ở miền Trung Việt Nam; và hỗ trợ điều trị cho người khuyết tật Việt Nam do nhiều nguyên nhân tại tám tỉnh trọng điểm.

Tôi tin rằng công việc của chúng ta nhằm giải quyết một cách có trách nhiệm những vấn đề trong quá khứ đã cho phép chúng ta thiết lập một nền tảng của sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Dựa trên nền tảng này, chúng ta đã mở rộng đáng kể quan hệ hợp tác. Dù mối quan hệ của chúng ta tập trung vào tương lai và những lợi ích mà sự hợp tác mang lại cho nhân dân hai nước, Hoa Kỳ song song với đó vẫn sẽ giữ vững cam kết giải quyết các vấn đề của quá khứ và thúc đẩy hòa giải.

Trên thực tế, cá nhân tôi nhận thấy, một số sự kiện ý nghĩa nhất mà tôi từng tham gia trong ba năm ở Việt Nam đều liên quan đến vấn đề hòa giải, chẳng hạn như những cuộc gặp của tôi với các cựu chiến binh Việt Nam, bao gồm chuyến đi của tôi đến tỉnh Thanh Hóa vào tháng Sáu, nơi tôi có vinh dự được tay trong tay với các cựu chiến binh Việt Nam và Hoa Kỳ, với tư cách là những người bạn, bước đi trên cầu Hàm Rồng, chiến địa ác liệt 50 năm về trước. Hay những chuyến đi đầy cảm xúc của tôi đến Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn và Cầu Hiền Lương tại tỉnh Quảng Trị, và những chuyến viếng thăm đến Nghĩa trang Liệt sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghĩa trang Bình An hay còn gọi là Nghĩa trang Biên Hòa tại tỉnh Bình Dương. Tôi vinh dự được thực hiện những chuyến đi đó trên tinh thần hòa giải và tôn trọng lẫn nhau, nhằm tôn vinh những người từ tất cả các bên đã hy sinh nhân danh lòng yêu nước.

Nhiều năm qua, nỗ lực của những con người dũng cảm ở cả hai quốc gia đã góp phần thúc đẩy hòa giải và xây dựng quan hệ đối tác và tình hữu nghị giữa chúng ta. Giờ đây, chúng ta đã đạt được những bước tiến xa hơn so với các lĩnh vực hợp tác thuở ban đầu.

Nhưng không dễ dàng gì mà chúng ta cùng nhau đạt được những thành tựu đó. Mọi chuyện không nghiễm nhiên mà có. Một số người cho rằng sự thành công của mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong 25 năm qua là một “phép màu”. Cách đây gần ba năm, tôi đã có cuộc trò chuyện tại nhà riêng với Đại sứ đầu tiên tại Việt Nam, ngài Pete Peterson vĩ đại. Tôi sẽ không bao giờ quên những gì Đại sứ Peterson đã nói với tôi. Ông nói rằng thành công của chúng ta thực sự phi thường, nhưng đó không phải là một phép màu và cũng chẳng phải là một sự tình cờ. Thay vào đó, mối quan hệ đối tác và tình hữu nghị tốt đẹp mà chúng ta đang có là kết quả của lòng dũng cảm, thiện chí và công lao mẫn cán của những con người tâm huyết ở cả hai quốc gia, những người nhiệt thành tin tưởng vào khả năng hòa bình và hòa giải. Chính họ – những nhà lãnh đạo và nhân dân của cả hai quốc gia vĩ đại của chúng ta– đã toàn tâm toàn ý tin tưởng rằng Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cùng nhau hợp tác để học hỏi từ quá khứ và gác lại quá khứ cho dù chúng ta vẫn trân trọng quá khứ đó.

Nói cách khác, chính những người trong khán phòng này đã mang lại thành tựu đáng kinh ngạc là mối quan hệ đối tác Hoa Kỳ – Việt Nam ngày nay. Tôi chân thành cảm ơn tất cả các bạn vì những gì các bạn đã làm để xây dựng tình hữu nghị mà chúng ta đang có.

Năm 1995, hai nước chúng ta đã có một quyết định táo bạo, vạch ra một hướng đi mới và bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tôi có thể thấy rõ thành quả của sự cống hiến không ngừng nghỉ nhằm vun đắp cho mối quan hệ đối tác đang hiển hiện ở mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay.

Điều nổi bật nhất là, dù cho có quá khứ như vậy, hiện nay, năm 2020, mục tiêu của chúng tôi tại Phái đoàn Ngoại giao Hoa Kỳ là ủng hộ sự phát triển của một nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập. Nói cách khác, nhìn thấy Việt Nam thành công là lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Bởi Hoa Kỳ tin tưởng rằng chúng tôi sẽ an ninh và thịnh vượng hơn khi làm việc cùng với các đối tác thành công, mạnh mẽ và có cùng quan điểm như Việt Nam nhằm thúc đẩy các lợi ích chung của chúng ta hướng đến việc tạo ra một khu vực tự do và cởi mở, nơi tất cả chúng ta đều muốn sinh sống.

Hơn nữa, quan hệ đối tác của chúng ta ngày nay dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, bao gồm tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hệ thống chính trị của mỗi quốc gia.

Chiều rộng và chiều sâu của mối quan hệ hợp tác song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là hết sức ấn tượng. Chúng ta hợp tác chặt chẽ trên mọi lĩnh vực, từ an ninh và thương mại, giáo dục và các vấn đề chiến tranh để lại, đến năng lượng, y tế và nhiều lĩnh vực khác nữa.

Mối quan hệ thương mại phát triển mạnh mẽ của chúng ta và sự đầu tư của các công ty Hoa Kỳ vào Việt Nam đã đóng góp cho sự thành công về kinh tế của cả hai quốc gia. Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trên thế giới, trong khi Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất toàn cầu của Hoa Kỳ. Năm 1995, hai quốc gia chúng ta gần như không có trao đổi thương mại, ngoài ra sự giao lưu nhân dân cũng rất hạn chế. Ngày nay, kim ngạch thương mại song phương giữa hai nước đạt 77 tỷ USD.

Giao lưu nhân dân đã trở thành nền tảng vững chắc cho mối quan hệ đối tác ngày càng quan trọng của chúng ta. Năm 1995 có chưa tới 800 người Việt Nam theo học tại các trường đại học ở Hoa Kỳ. Ngày nay, khoảng 30.000 thanh thiếu niên Việt Nam đang theo học tại tất cả các bậc học trên khắp Hoa Kỳ. Tại Đông Nam Á, không có quốc gia nào có nhiều du học sinh tại Hoa Kỳ hơn Việt Nam.

Nền giáo dục đẳng cấp thế giới mà sinh viên Việt Nam nhận được tại các cơ sở giáo dục tại Hoa Kỳ đang giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của Việt Nam và đóng góp to lớn vào nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của Việt Nam. Và chúng ta đang đồng thời tạo ra 30.000 Đại sứ văn hóa mới gắn kết quan hệ Việt – Mỹ mỗi năm! Tôi rất vui khi thấy rằng số lượng sinh viên Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng đang gia tăng. Tôi tin rằng mối quan hệ giữa nhân dân hai nước có được từ những trải nghiệm này sẽ dẫn dắt mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong những thập kỷ tới.

Tương tự như vậy, thật tuyệt vời khi được chứng kiến sự ra đời của Đại học Fulbright Việt Nam, một trường đại học tiên tiến được cả Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam hỗ trợ, nơi mà hiện một số sinh viên Việt Nam ấn tượng nhất mà tôi từng gặp đang theo học, những người mà tôi biết sẽ làm được những điều tuyệt vời cho Việt Nam và cho mối quan hệ đối tác của chúng ta. Và tôi cũng rất vui mừng khi vào tháng 7 năm nay, chính phủ hai nước đã ký thỏa thuận để lần đầu tiên đưa các Tình nguyện viên thuộc Tổ chức Hòa bình đến Việt Nam dạy tiếng Anh.

Sự hợp tác của chúng ta trong việc giải quyết các thách thức về an ninh, từ vấn đề Biển Đông đến Bắc Triều Tiên có tầm ảnh hưởng sâu sắc. Chúng ta không cần nhìn đâu xa, việc Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh tại Hà Nội vào tháng 2 năm 2019 giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch CHDCND Triều Tiên Kim Jong Un cho thấy Việt Nam đã trở thành đối tác ngoại giao đáng tin cậy như thế nào. Hôm nay, chúng ta tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào năng lực quốc phòng của Việt Nam, đặc biệt là năng lực hàng hải, nhằm thúc đẩy lợi ích chung của chúng ta đối với tự do hàng hải và giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế. Ngoài ra, chúng ta cũng phối hợp trong các hoạt động gìn giữ hòa bình.

Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp tục sát cánh bên nhau trong nỗ lực giải quyết một loạt thách thức khác ở khu vực sông Mekong, ASEAN và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm việc buôn lậu động thực vật hoang dã và ma túy, tội phạm xuyên quốc gia và đại dịch.

Chúng tôi nhiệt liệt ủng hộ việc Việt Nam năm nay đảm nhận những vị trí lãnh đạo toàn cầu, từ việc trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong nhiệm kỳ hai năm cho đến việc giữ chức chủ tịch ASEAN trong một giai đoạn then chốt trong lịch sử của tổ chức này.

Rõ ràng là năm 2020 đã đặt ra cho tất cả chúng ta những thách thức sâu sắc: một đại dịch toàn cầu đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người trên khắp thế giới, phá hoại sinh kế và tác động đến nền kinh tế toàn cầu.

Dù phải đối mặt với những thách thức này, đây cũng là thời điểm của hy vọng. Bởi khi đương đầu với đại dịch chưa từng có tiền lệ này, Hoa Kỳ và Việt Nam đã sát cánh và hỗ trợ lẫn nhau. Hợp tác y tế giữa Hoa Kỳ-Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng trong mối quan hệ của chúng ta. Hoa Kỳ đã đóng góp hơn 13 triệu USD cũng như gần đây đã trao tặng 100 máy thở để hỗ trợ cho cuộc chiến chống COVID-19 của Việt Nam và góp phần phục hồi kinh tế. Đồng thời, tôi rất xúc động khi Chính phủ Việt Nam cũng như nhân dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác của Việt Nam đã quyên góp hàng triệu khẩu trang và thiết bị bảo hộ để giúp đỡ người dân Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống COVID-19. Những hỗ trợ và quyên góp này đã cứu sống nhiều người ở Hoa Kỳ và chúng tôi sẽ mãi mãi biết ơn vì điều đó.

Từ những hoạt động được khởi động cách đây 30 năm nhằm trợ giúp người khuyết tật đến những nỗ lực trong hiện tại của chúng ta nhằm ngăn chặn và kiểm soát đại dịch COVID-19, sự hợp tác của chúng ta trong lĩnh vực y tế đã cải thiện cuộc sống của vô số công dân Việt Nam. Trong hơn 2 thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã viện trợ hơn 1,8 tỷ USD cho Việt Nam, trong đó bao gồm hơn 925 triệu USD cho ngành y tế.

25 năm về trước, những thành tựu đáng kinh ngạc mà tôi đã nêu trên được coi là điều không tưởng. Việc chúng ta ở đây ngày hôm nay để kỷ niệm một phần tư thế kỷ quan hệ ngoại giao của giữa hai nước là bằng chứng cho thấy chúng ta không nhất thiết phải lặp lại những sai lầm của quá khứ. Chúng ta có khả năng vượt qua sự thù hận, nghi kị, và đắng cay, và thay thế bằng sự tin cậy, tôn trọng và tình hữu nghị. Hoa Kỳ và Việt Nam một lần nữa đã chứng tỏ rằng hai cựu thù có thể trở thành đối tác tin cậy. Và thành quả đó có ý nghĩa với chúng ta bao nhiêu thì cũng là một bài học sâu sắc bấy nhiêu cho các nước khác trên thế giới.

Khi nhìn lại về những gì Hoa Kỳ và Việt Nam đã cùng nhau đạt được trong 25 năm qua, rõ ràng là chúng ta có nhiều điều đáng ăn mừng vào năm nay. Tuy nhiên, tôi nghĩ chúng ta cần nhận thấy rằng công việc của chúng ta vẫn chưa kết thúc ở đây.

Đâu đó vẫn còn những ngọn đồi chưa chinh phục và những vấn đề phức tạp cần giải quyết để quan hệ đối tác giữa hai nước đạt đến tiềm năng đầy đủ. Tuy nhiên, nếu hiện tại là điềm báo cho tương lai, tôi nghĩ chúng ta nên hết sức lạc quan về những gì chúng ta có thể đạt được trong những năm tới vì quan hệ đối tác của chúng ta chỉ có thể tiếp tục bền chặt hơn nữa.

Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm tiếp tục xây dựng quan hệ tin cậy và tình bằng hữu bền chặt – nền tảng cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Vì vậy, chúng ta hãy nỗ lực gấp đôi để đảm bảo quan hệ đối tác song phương của chúng ta sẽ mạnh nhẽ, bền vững, và tiếp tục phát triển trong 25 năm tới và xa hơn nữa!

Một lần nữa, tôi xin cảm ơn tất cả các bạn đã có mặt ở đây tối nay vì những đóng góp vô giá của các bạn trong việc xây dựng tình hữu nghị giữa hai quốc gia và dân tộc tuyệt vời chúng ta. Chúc các bạn dồi dào sức khỏe, thịnh vượng và một buổi tối thật vui vẻ.

Cảm ơn rất nhiều!