Phát biểu của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony J. Blinken tại cuộc gặp gỡ báo chí

Phát biểu của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony J. Blinken tại cuộc gặp gỡ báo chí ngày 15 tháng 4 năm 2023 tại Hà Nội, Việt Nam (Ảnh AP/Andrew Harnik, Pool)

Phát biểu của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony J. Blinken tại cuộc gặp gỡ báo chí

Ngày 15 tháng 4 năm 2023

Hà Nội, Việt Nam

 

Xin chào. Từ lâu tôi đã rất mong chờ được trở lại Việt Nam và thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới đây với tư cách là Ngoại trưởng. Tôi đã từng đến đây khi còn là Thứ trưởng ngoại giao vào năm 2016 nhưng tôi rất vui khi được trở lại ngày hôm nay.

Một thập kỷ kể từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện và gần 28 năm kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, chúng ta đã xây dựng một mối quan hệ phát triển mạnh mẽ, năng động và hiệu quả.  Thay mặt Tổng thống Biden, tôi đến đây để mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đối tác đó, tiếp nối cuộc điện đàm giữa Tổng thống Biden và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng trước cũng như các chuyến thăm cấp cao trước đó, bao gồm chuyến thăm của Phó Tổng thống Kamala Harris, Bộ trưởng Quốc phòng Austin, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai, Tổng giám đốc USAID Samantha Power và các thành viên Quốc hội. Trong các cuộc gặp gỡ, trao đổi trong chuyến thăm này, tôi tập trung vào việc làm thế nào Hoa Kỳ có thể tiếp tục hỗ trợ thành công của Việt Nam – qua đó mang lại lợi ích cho người dân Việt Nam, người dân Hoa Kỳ và toàn bộ khu vực.

Hai quốc gia chúng ta đang hợp tác vì lợi ích chung vô cùng rộng lớn và chúng tôi tin rằng, bằng cách hỗ trợ các tham vọng của Việt Nam, chúng tôi cũng sẽ thúc đẩy tham vọng của chính mình: từ tạo việc làm cho người dân Hoa Kỳ và tăng cường sức mạnh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, đến đạt được thêm bước tiến nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng khí hậu đang ảnh hưởng đến tất cả chúng ta cũng như ngăn chặn các đại dịch. Tôi cũng tập trung vào cách thức hai nước chúng ta thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, hòa bình và có nền tảng là sự tôn trọng đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. “Tự do và rộng mở” có hàm ý rằng các quốc gia được tự do lựa chọn con đường và đối tác của riêng mình… và rằng các vấn đề sẽ được giải quyết một cách cởi mở, các quy tắc sẽ đạt được một cách minh bạch và áp dụng một cách công bằng, và hàng hóa, ý tưởng và con người sẽ tự do lưu thông trên đất liền, trên biển, trên trời và không gian mạng.

Trong các cuộc gặp với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn và Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung, tôi đã thảo luận về nỗ lực của chúng ta nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng trên diện rộng ở Việt Nam và trên toàn khu vực, bao gồm thông qua Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPEF). Việt Nam đã tham gia đàm phán về cả bốn trụ cột của IPEF, qua đó giúp dẫn đầu những nỗ lực về các vấn đề có vai trò định hình nền kinh tế trong thế kỷ 21, gồm sức chống chịu của chuỗi cung ứng, chuyển đổi năng lượng sạch và kết nối kỹ thuật số – từ đó mang lại lợi ích cho người dân Hoa Kỳ và người dân trên toàn thế giới.

Chúng tôi đã thảo luận về sự tôn trọng lẫn nhau đối với vai trò trung tâm của ASEAN và quan hệ đối tác chặt chẽ của chúng ta thông qua các khuôn khổ kinh tế khu vực, bao gồm APEC, mà Hoa Kỳ tự hào đăng cai tổ chức năm nay, và quan hệ đối tác Mekong-Hoa Kỳ. Chúng tôi đánh giá cao vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Việt Nam trong việc giải quyết các thách thức phát triển ở khu vực sông Mekong – vốn đang trở nên tồi tệ hơn do việc xây dựng các đập nước, biến đổi khí hậu và đánh bắt thủy hải sản quá mức.

Chúng tôi cũng đang phát triển quan hệ đối tác kinh tế song phương. Hoa Kỳ đang giúp Việt Nam thúc đẩy những cải cách quan trọng mà Việt Nam đã và đang áp dụng – bao gồm lao động, sở hữu trí tuệ và công bằng thương mại – những cải cách đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Chúng tôi tin rằng Việt Nam có thể đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia kết nối, có thu nhập cao vào năm 2045 bằng cách theo đuổi tăng trưởng thúc đẩy tất cả các cộng đồng, đồng thời xây dựng khả năng phục hồi để thích ứng với biến đổi khí hậu. Chúng tôi biết Việt Nam ngày càng dễ bị tổn thương trước các mối đe dọa do khủng hoảng khí hậu gây ra. Khi Việt Nam thực hiện các bước để trở thành quốc gia đi đầu trong quá trình chuyển đổi năng lượng sạch, Hoa Kỳ cũng đang đầu tư vào tiềm năng to lớn của Việt Nam.

Chúng tôi đang khởi động các sáng kiến khí hậu song phương mới mà Phó Tổng thống Harris công bố trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 8 năm 2021, bao gồm từ việc bảo tồn hệ sinh thái và giảm khí thải từ canh tác lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long cho đến việc mở rộng hệ thống năng lượng sạch định hướng bởi thị trường và mở rộng việc sử dụng xe điện, nhằm thúc đẩy các khu vực tư nhân hành động về bảo vệ môi trường. Chúng tôi cũng đang khai thác sức mạnh của các khuôn khổ khu vực như Chương trình Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng mà Việt Nam vừa tham gia – trong đó sẽ triển khai 15,5 tỷ đô la để giúp Việt Nam thực hiện mục tiêu Cắt giảm khí thải nhà kính Net Zero 2050, và chương trình Đối tác năng lượng Nhật Bản – Hoa Kỳ – Mekong.

Chúng tôi đang hợp tác để xây dựng năng lực y tế công cộng của Việt Nam, bao gồm việc thành lập Văn phòng CDC quốc gia tại Việt Nam. Chúng ta đã hợp tác chặt chẽ để chống lại đại dịch COVID-19: với việc Hoa Kỳ tài trợ hơn 40 triệu liều vắc-xin, sau khi Việt Nam tài trợ hàng triệu thiết bị bảo hộ cá nhân trong giai đoạn đầu của đại dịch, khi Hoa Kỳ đang ở thời điểm thiết yếu nhất. Tôi phải nói rằng đây chính là bằng chứng sinh động nhất về việc các nước sát cánh cùng nhau trong giai đoạn cần đến sự hỗ trợ lẫn nhau nhất.

Các cuộc trò chuyện của chúng ta hôm nay cũng tập trung vào cách Hoa Kỳ và Việt Nam có thể mở rộng hợp tác để thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Hoa Kỳ và Việt Nam có lợi ích chung trong việc duy trì sự tôn trọng luật pháp quốc tế, thương mại không cản trở, tự do hàng hải và hàng không. Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác, giúp họ xây dựng năng lực để duy trì chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Là một phần trong quan hệ đối tác an ninh song phương đang phát triển, chúng tôi đang hoàn tất việc chuyển giao tàu tuần duyên thứ ba của Hoa Kỳ cho Việt Nam, bổ sung cho hạm đội gồm 24 tàu tuần tra và các thiết bị, cơ sở huấn luyện và điều hành mà chúng tôi đã cung cấp từ năm 2016. Tất cả những nỗ lực này nhằm củng cố năng lực của Việt Nam trong việc đóng góp vào hòa bình và ổn định hàng hải ở Biển Đông.

Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ một Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập. Và chúng tôi tôn trọng quyền của Việt Nam trong việc định hình tương lai của đất nước dưới hệ thống chính trị của các bạn. Đồng thời, chúng tôi tiếp tục nhấn mạnh những tiến bộ về nhân quyền trong tương lai là cần thiết để khơi mở tiềm năng của người dân Việt Nam. Đó cũng là trọng tâm của Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam.

Cuối cùng, Hoa Kỳ cam kết thực hiện công việc đang diễn ra của chúng tôi để giải quyết các di sản của chiến tranh, kể cả khi chúng ta tập trung vào tương lai. Đây là vấn đề của sự tin tưởng, cam kết và trách nhiệm. Chúng tôi đang tiếp tục nỗ lực chung để rà phá bom mìn và các vật liệu chưa nổ. Vào tháng tới, chúng tôi sẽ hoàn thành cuộc khảo sát khu vực bị đánh bom nặng nề tại tỉnh Quảng Trị. Chúng tôi đang đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc tẩy rửa các điểm nóng dioxin do chiến tranh – và tháng trước, chúng tôi đã công bố một hợp đồng mới trị giá 73 triệu đô la để xử lý đất và trầm tích bị ô nhiễm tại căn cứ Không quân Biên Hòa.

Và chúng tôi đang tiếp tục công việc nhân đạo quan trọng nhằm tìm kiếm những người mất tích trong chiến tranh – bao gồm cả việc nâng cao năng lực của Việt Nam trong việc xác định những người mất tích và thiệt mạng. Chúng tôi ghi nhận sự hỗ trợ lâu dài của Chính phủ Việt Nam trong việc tìm kiếm các nhân viên Hoa Kỳ đã mất trong chiến tranh. Sự hợp tác có đi có lại của chúng ta thực sự quan trọng trong việc đảm bảo các gia đình từ cả hai quốc gia có thể khép lại quá khứ.

Hôm nay, chúng ta đã tiến thêm một bước để củng cố mối quan hệ giữa hai nước bằng việc khởi công xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán mới. Khi hoàn thành, Đại sứ quán mới tại Hà Nội sẽ là một cơ sở hiện đại xứng đáng với tầm nhìn đầy tham vọng về tương lai của mối quan hệ đối tác giữa hai nước – và xứng đáng với những người dân Hoa Kỳ và Việt Nam đang nỗ lực hàng ngày để biến tầm nhìn đó thành hiện thực.

Tôi xin kết thúc bài phát biểu của mình ở đây để trả lời các câu hỏi từ báo chí.