Các Câu hỏi Thường gặp – Thị thực Diện K-1

Nếu quý vị có bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến tiến trình thị thực dành cho hôn phu/hôn thê, vui lòng tham khảo Những câu hỏi thường gặp (FAQ) dưới đây.  Nếu có câu hỏi liên quan đến các loại thị thực khác, quý vị vui lòng truy cập FAQ cho Thị thực không định cư,  FAQ cho Thị thực định cư, hoặc các trang FAQ khác. Nếu quý vị vẫn không tìm thấy câu trả lời cho vấn đề quý vị quan tâm, vui lòng liên hệ với chúng tôi.

Những đương đơn xin thị thực diện hôn phu hôn thê (diện K) có thể tự đặt lịch hẹn phỏng vấn và đóng phí thị thực theo hướng dẫn tại đây. Đương đơn không nên đặt lịch hẹn phỏng vấn nếu chưa nhận được Thư hướng dẫn (PKT3 – K) từ Lãnh sự quán.

Xin lưu ý đương đơn xin thị thực diện K-1 (hôn phu-hôn thê) phải chọn mục “Thị thực Định cư” khi đặt lịch hẹn trên mạng.

Phí được thu cho các dịch vụ sau:

  1. Mở hồ sơ bảo lãnh, mẫu đơn I-129F
  2. Phí xử lý hồ sơ xin thị thực
  3. Phí kiểm tra sức khỏe

Các phí khác có thể bao gồm phí cho dịch vụ dịch thuật, sao y, phí làm các giấy tờ được yêu cầu trong quá trình xin thị thực (như hộ chiếu, giấy Lý lịch Tư Pháp, giấy khai sinh, v.v.) và chi phí di chuyển đến Lãnh sự quán để tham dự phỏng vấn. Để xem các loại phí hiện thời đóng cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hay các dịch vụ thuộc chính phủ, vui lòng xem tại đây.

Thời gian giải quyết hồ sơ phụ thuộc vào tình trạng của từng hồ sơ cụ thể. Thời gian giải quyết tại từng văn phòng Sở Di trú và từng văn phòng Lãnh sự quán cũng khác nhau. Trong một số trường hợp, hồ sơ bị trì hoãn do đương đơn không theo đúng hướng dẫn hay chưa cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu. (Việc thông báo cho chúng tôi chính xác địa chỉ gửi thư và số điện thoại hiện thời rất quan trọng.) Một số trường hợp khác thì hồ sơ phải cần đợi hoàn tất các thủ tục hành chánh. Việc này đòi hỏi phải cần thêm thời gian để viên chức hoàn tất hồ sơ sau khi phỏng vấn đương đơn.

Tất cả những đương đơn xin thị thực diện K đều được yêu cầu hoàn tất mẫu đơn điện tử DS-160 (Đơn Điện tử Thị thực Không Định cư). Người bảo lãnh khi mở hồ sơ xin thị thực diện K sẽ vẫn tiếp tục sử dụng mẫu đơn bảo lãnh I-129F (PDF 473KB).

Hồ sơ bảo lãnh I-129F có thời hạn bốn tháng từ ngày được Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ chấp thuận. Viên chức Lãnh sự thông thường sẽ gia hạn thêm thời gian giải quyết thị thực nhằm đảm bảo đương đơn có đủ thời gian hoàn tất hồ sơ của mình.

Nếu đương đơn và người bảo lãnh chính thức kết hôn sau khi mở hồ sơ bảo lãnh I-129F diện Hôn phu/ Hôn thê (K-1), thì đương đơn sẽ không còn hội đủ điều kiện được cấp thị thực diện K-1. Hồ sơ bảo lãnh diện K-1 không thể được chuyển đổi thành diện vợ chồng CR-1/ IR-1. Hồ sơ bảo lãnh diện K-1 sẽ được trả về Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS). Để tiếp tục tiến trình định cư, người bảo lãnh cần phải đến Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ để mở hồ sơ bảo lãnh diện vợ chồng cho đương đơn.

Thị thực hôn phu (hôn thê) là diện thị thực không định cư, do đó mẫu đơn cần dùng là I-134. Khi được chuyển tình trạng lưu trú sau khi kết hôn ở Hoa Kỳ, đương đơn sẽ phải nộp mẫu I-864 cho Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ.

Không. Yêu cầu mức thu nhập tối thiểu 125%, thuế năm gần nhất và những yêu cầu khác chỉ áp dụng cho trường hợp dùng mẫu I-864. Các đương đơn dùng mẫu I-134 sẽ cần chứng minh thu nhập của người bảo lãnh đạt 100% theo Bảng Hướng dẫn về thu nhập hàng năm được yêu cầu theo điều khoản 212(a)(4) của luật Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ.

Sau khi được cấp thị thực và vị hôn phu (hôn thê) đã đến Hoa Kỳ, người bảo lãnh và người hôn phu (hôn thê) đó phải kết hôn trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhập cảnh Hoa Kỳ.

Thị thực diện K-1 khác với các diện thị thực định cư thông thường vì đương đơn sẽ phải kết hôn với người bảo lãnh trong vòng 90 ngày sau khi nhập cảnh Hoa Kỳ để nhận được các quyền lợi nhập cư. Ngoài ra, người bảo lãnh chỉ cần chứng minh thu nhập đạt ít nhất 100% mức thu nhập tối thiểu theo từng tiểu bang và sử dụng Mẫu đơn I-134.

Nếu đương đơn nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện K-1, đương đơn cần nắm rõ những phương thức bảo vệ mà mình có quyền được hưởng. Ðạo luật Môi giới Hôn nhân Quốc tế (International Marriage Broker Regulation Act – IMBRA) về bạo hành đối với phụ nữ và Đạo luật Tái Phê Chuẩn vào năm 2005 của Bộ Tư Pháp đã ban hành nhiều quyền bảo vệ cho những hôn phu (hôn thê) và người phối ngẫu nước ngoài của công dân và thường trú nhân Hoa Kỳ nộp đơn xin thị thực theo diện hôn phu (hôn thê) hay diện vợ chồng. Để biết thêm thông tin, vui lòng nhấn vào đây để truy cập vào trang web của Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ.

Sau khi hồ sơ đã bị trả về Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ, nếu có thắc mắc hay yêu cầu gì đối với hồ sơ, vui lòng liên hệ trực tiếp với Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ nơi mở hồ sơ bảo lãnh trước đây. Quí vị có thể xem thêm thông tin trên trang web của Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ.

Có nhiều nguyên nhân khiến Viên chức Lãnh sự từ chối cấp thị thực.  Đối với thị thực diện Hôn phu/Hôn thê hoặc thị thực định cư, lý do từ chối phổ biến nhất là theo Điều khoản 221(g) của Luật Di trú và Nhập tịch (INA).  Việc từ chối này có nghĩa Viên chức Lãnh sự không có đủ thông tin cần thiết để có thể xem xét và đưa đến kết luận đối với hồ sơ xin thị thực, vì thế thị thực không thể được cấp tại thời điểm đó.  Khi thông tin yêu cầu được nộp trong thời hạn cho phép, hồ sơ xin cấp thị thực sẽ được tiếp tục được xem xét, kết luận về hồ sơ, và đương đơn không cần phải nộp lại hồ sơ xin thị thực.

Ngoài ra còn có một số trường hợp không hội đủ tiêu chuẩn được cấp thị thực, những trường hợp này có thể dẫn đến việc thị thực bị từ chối hoặc không được cấp.  Những hành vi khác, chẳng hạn như tham nhũng (PDF 20KB), cũng có thể là nguyên dân dẫn đến việc bị tự chối cấp thị thực.

Đương đơn có thể; tuy nhiên, trường hợp của đương đơn có thể sẽ được xem xét kỹ hơn.  Chúng tôi thường khuyên đương đơn không nên xin nhập cảnh Hoa Kỳ theo một thị thực diện khác hoặc theo chương trình miễn thị thực trước khi hồ sơ xin thị thực diện K của đương đơn được chấp thuận, vì đương đơn đã nêu rõ ý định sẽ kết hôn tại Hoa Kỳ.  Để biết thêm thông tin về thị thực không định cư diện K-1, vui lòng liên hệ tại đây.

Ðạo luật Môi giới Hôn nhân Quốc tế (International Marriage Broker Regulation Act – IMBRA) về việc bạo hành đối với phụ nữ và Đạo luật Tái Phê Chuẩn vào năm 2005 của Bộ Tư Pháp đã ban hành nhiều quyền bảo vệ cho những hôn phu (hôn thê) và những người phối ngẫu nước ngoài của công dân và thường trú nhân Hoa Kỳ nộp đơn xin thị thực theo diện hôn phu (hôn thê) hay diện vợ chồng. Để biết thêm thông tin, vui lòng nhấn vào đây (PDF 52KB) để truy cập vào trang Web của Sở Di trú.

 

 

Nếu Quý vị chưa tìm được câu trả lời cho câu hỏi của mình, vui lòng liên hệ chúng tôi.