Câu hỏi thường gặp – Thị thực không định cư

Nếu quý vị có bất kì câu hỏi nào liên quan đến quy trình xin thị thực không định cư, vui lòng xem qua các Câu hỏi thường gặp (FAQ) dưới đây.  Đối với các câu hỏi liên quan đến những loại thị thực khác, vui lòng vào trang Câu hỏi thường gặp Thị thực định cư, Câu hỏi thường gặp Thị thực diện K, hoặc trang Câu hỏi thường gặp khác.  Nếu quý vị vẫn không thể tìm được câu trả lời cho câu hỏi của mình, vui lòng liên hệ với chúng tôi.

Vui lòng làm theo các bước hướng dẫn để nộp đơn xin thị thực không định cư.

Quý vị có thể đăng ký lịch hẹn ở Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội.  Thời gian chờ lịch hẹn có thể khác nhau giữa hai địa điểm. Nếu quý vị muốn đặt lịch hẹn ở Hà Nội, hãy chọn “Hà Nội” thay vì “Tp. Hồ Chí Minh” khi quý vị đăng ký lịch hẹn.

Theo quy định chung trên toàn thế giới, ngoài đương đơn xin thị thực, không một ai được phép tham dự buổi phỏng vấn xin thị thực không định cư kể cả công dân Hoa Kỳ hoặc Thường Trú Nhân Hoa Kỳ. Tuy nhiên đương đơn xin thị thực không định cư có thể có người đi cùng trong một số trường hợp dưới đây:

  • Đương đơn dưới 17 tuổi phải có ba/mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp đến tham dự phỏng vấn. Ba/mẹ của đương đơn phải mang theo chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của mình, kèm theo giấy khai sinh của đương đơn khi đến buổi phỏng vấn. Người giám hộ phải có giấy tờ giám hộ hợp pháp và phải mang theo chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của mình.
  • Đương đơn từ 70 tuổi trở lên hoặc đương đơn cần sự trợ giúp đặc biệt có thể có người đi cùng đến dự phỏng vấn. Người đi cùng phải mang theo chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của mình.
  • Đương đơn không biết tiếng Anh hoặc tiếng Việt cần mang theo phiên dịch vì Đại sứ quán và Lãnh sự quán Hoa Kỳ chỉ phỏng vấn bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt. Phiên dịch phải mang theo chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của mình.

Không. Ngày hẹn phỏng vấn xin cấp thị thực của đương đơn chỉ có giá trị cho bản thân đương đơn và không thể chuyển sang cho người khác.

Không. Để có thể đặt hẹn phỏng vấn, đương đơn cần phải in phiếu đăng ký đóng phí ngân hàng ra, sau đó đến đóng lệ phí tại Bưu điện Việt Nam.  Một khi quý vị đã thanh toán lệ phí, quý vị có thể quay trở lại trang web trên vào ngày làm việc kế tiếp để đăng ký lịch hẹn.

Không. Lệ phí thị thực không được hoàn trả và cũng không chuyển sang cho người khác được. Quý vị có thể đặt lịch hẹn phỏng vấn xin thị thực cho mình trong vòng một năm kể từ ngày thanh toán lệ phí.

Nếu đương đơn cần đi sớm và không còn lịch hẹn nào trống, quý vị có thể gửi yêu cầu xin phỏng vấn sớm. Trước khi gửi yêu cầu, vui lòng đặt cuộc hẹn phỏng vấn sớm nhất có thể trên hệ thống.

Vui lòng làm theo hướng dẫn để gia hạn thị thực qua đường bưu điện. Quý vị sẽ gửi hồ sơ của mình qua Bưu điện Việt Nam

Nếu thị thực của quý vị được duyệt, Bưu Điện Việt Nam sẽ chuyển lại hộ chiếu tới địa chỉ mà quý vị đã đăng ký.  Quý vị có thể thay đổi địa chỉ nhận thị thực cho đến trước ngày phỏng vấn.  Thông thường quý vị sẽ nhận được thị thực trong vòng 1-2 ngày đối với các địa chỉ trong nội thành và 3-5 ngày đối với địa chỉ ở các vùng ngoại thành. Quý vị không phải đóng thêm phí chuyển phát thị thực.

Các viên chức Lãnh sự đều nói được tiếng Việt. Chúng tôi cũng đào tạo nhân viên địa phương để có thể phiên dịch nếu cần thiết. Tuy nhiên nếu quý vị là sinh viên và mẫu đơn I-20 chỉ rõ rằng quý vị thông thạo tiếng Anh, thì hãy chuẩn bị để chứng minh trình độ Anh ngữ của mình tại buổi phỏng vấn.

Không. Đương đơn đừng bao giờ trả tiền cho bất kỳ người nào cam đoan rằng họ có thể giúp đương đơn có được thị thực. Đương đơn cũng không nên trả tiền làm giấy tờ giả mạo vì các Viên chức Lãnh Sự của chúng tôi được đào tạo những kỹ năng phát hiện giấy tờ giả.

Ngày sinh trên hộ chiếu của quý vị phải trùng khớp với ngày sinh trên giấy khai sinh hoặc chứng minh nhân dân (CMND). Nếu ngày sinh trên hộ chiếu không trùng khớp với ngày sinh trên giấy khai sinh hoặc CMND, quý vị phải điều chỉnh hộ chiếu hoặc xin cấp mới hộ chiếu cho trùng khớp trước khi đi phỏng vấn. Nếu quý vị không điều chỉnh ngày sinh trên hộ chiếu trước cuộc phỏng vấn, có thể quý vị sẽ được yêu cầu quay lại phỏng vấn sau khi thông tin được điều chỉnh. Nếu giấy khai sinh và CMND chỉ có năm sinh, chúng tôi sẽ chấp nhận hộ chiếu chỉ có năm sinh.

Chúng tôi không khuyến cáo các đương đơn mang theo thật nhiều giấy tờ cá nhân. Đối với đa số các loại thị thực, các giấy tờ yêu cầu bao gồm hộ chiếu, hóa đơn nộp lệ phí thị thực và trang xác nhận mẫu đơn DS-160. Đối với các loại thị thực khác, chứng từ duy nhất được yêu cầu bổ sung thêm là các giấy tờ được chính phủ Hoa Kỳ cấp cho đương đơn, các chứng từ này đương đơn thường đã có sẵn để mang đến buổi phỏng vấn.

Theo luật pháp Hoa Kỳ, điều kiện được cấp thị thực phụ thuộc vào cuộc phỏng vấn, do hầu hết các thông tin yêu cầu cho việc cấp thị thực đã được cung cấp đầy đủ trên mẫu đơn. Ngoài các câu hỏi nhằm xác minh thêm thông tin của đương đơn tại buổi phỏng vấn, các viên chức thông thường sẽ không yêu cầu xem thêm thông tin nào khác để quyết định việc cấp thị thực.

Chúng tôi không yêu cầu xem thư mời, chứng minh tài chính hoặc giấy xác nhận việc làm. Quyết định cấp thị thực không hoàn toàn phụ thuộc vào việc trình các chứng từ này tại buổi phỏng vấn. Tuy nhiên, rất nhiều đương đơn tin rằng việc cung cấp thêm chứng từ về tài chính và việc làm là cần thiết. Viên chức thông thường không xem xét các chứng từ này, do các thông tin này đã được viên chức biết trước hoặc các thông tin và chứng từ này sẽ không thay đổi được tình trạng cơ bản mà đương đơn đã khai báo trên mẫu đơn.

Xin lưu ý rằng các dịch vụ làm giấy tờ giả thường kiếm cách thu lợi nhuận cho mình bằng cách thuyết phục đương đơn mua những giấy tờ giả mạo để cung cấp tại buổi phỏng vấn. Theo luật pháp Hoa Kỳ, hành vi cung cấp thông tin giả trong quá trình xin thị thực sẽ dẫn đến hậu quả bị cấm nhập cảnh vĩnh viễn vào Hoa Kỳ.

“Những ràng buộc” là các khía cạnh cuộc sống của đương đơn ràng buộc đương đơn với nơi mình cư trú, bao gồm các mối quan hệ gia đình, công việc và tài sản. Trong trường hợp những đương đơn nhỏ tuổi chưa thể thiết lập được những ràng buộc nói trên, viên chức phỏng vấn sẽ xem xét trình độ học vấn, điểm số học tập, nghề nghiệp của cha mẹ, và những kế hoạch dài hạn cũng như triển vọng của đương đơn ở Việt Nam. Vì mỗi đương đơn đều có hoàn cảnh khác nhau, do đó sẽ không thể có đáp án cố định cho câu hỏi: Như thế nào là đủ để chứng minh ràng buộc tại Việt Nam.

Một lá thư, kể cả từ người có chức quyền, không nhất thiết chứng minh được những ràng buộc của đương đơn bên ngoài phạm vi Hoa Kỳ. Luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu mỗi đương đơn phải tự chứng minh điều kiện được cấp thị thực của mình.

Việc khai báo thành thật rõ ràng là tốt nhất. Chúng tôi hiểu rằng rất nhiều đương đơn có gia đình, bà con đang sinh sống tại Hoa Kỳ, nhưng đương đơn chỉ muốn đến thăm họ trong thời gian ngắn cũng như đương đơn đang có hồ sơ bảo lãnh nhưng chưa có ý định định cư tại Hoa Kỳ vào thời điểm này. Do đó, tốt nhất đương đơn nên khai báo thành thật về hoàn cảnh của mình. Khi viên chức phỏng vấn phát hiện đương đơn cố tình giấu giếm hoặc cung cấp thông tin sai lệch, đương đơn sẽ bị từ chối cấp thị thực và trong một số trường hợp, đương đơn sẽ vĩnh viễn không được phép nhập cảnh Hoa Kỳ.

Không nhất thiết như vậy. Viên chức phỏng vấn phải áp dụng Điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA) để quyết định xem đương đơn có đủ điều kiện được cấp thị thực hay không. Một phần điều khoản này nêu rằng: Mỗi người ngoại quốc [đương đơn xin thị thực] được coi như có ý định nhập cư cho đến khi đương đơn, vào thời điểm xin cấp thị thực, thuyết phục được Viên chức Lãnh sự rằng đương đơn hội đủ điều kiện được cấp thị thực không định cư.

Điều này có nghĩa là Viên chức Lãnh sự xem xét trường hợp của đương đơn dựa trên tinh thần của điều luật, luôn xem rằng đương đơn có ý định định cư tại Hoa Kỳ cho đến khi đương đơn chứng minh được điều ngược lại. Đương đơn có thể đưa ra những chứng cứ dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng khi tổng hợp lại, những chứng cứ này phải đủ để viên chức phỏng vấn đánh giá được hoàn cảnh chung của đương đơn và tin rằng những mối ràng buộc về xã hội, gia đình, kinh tế và các ràng buộc khác của đương đơn tại Việt Nam là lý do buộc đương đơn phải rời khỏi Hoa Kỳ sau khi kết thúc thời gian lưu trú tạm thời. Đương đơn nên chuẩn bị để trình bày trường hợp của mình thật rõ ràng và ngắn gọn. Đương đơn có thể yêu cầu buổi phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, tùy theo nhu cầu của đương đơn.

Có nhiều nguyên nhân khiến Viên chức Lãnh sự từ chối cấp thị thực.  Ngoài Điều khoản 214(b) của Bộ Luật Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ (INA), lý do từ chối phổ biến nhất là theo Điều khoản 221(g) của INA.  Việc từ chối này có nghĩa Viên chức Lãnh sự không có đủ thông tin cần thiết để có thể xem xét và đưa đến kết luận đối với hồ sơ xin thị thực, vì thế thị thực không thể được cấp tại thời điểm đó.  Khi thông tin yêu cầu được nộp trong thời hạn cho phép, hồ sơ xin cấp thị thực sẽ được tiếp tục được xem xét, kết luận về hồ sơ, và đương đơn không cần phải nộp lại hồ sơ xin thị thực.

Ngoài ra còn có một số trường hợp không hội đủ tiêu chuẩn được cấp thị thực, những trường hợp này có thể dẫn đến việc thị thực bị từ chối hoặc không được cấp.  Những hành vi khác, chẳng hạn như tham nhũng (PDF 20KB), cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc bị từ chối cấp thị thực.

Trong một ngày làm việc thông thường, một viên chức Lãnh sự có thể phải phỏng vấn 100 đương đơn hoặc nhiều hơn, do đó mỗi đương đơn chỉ có thể được phỏng vấn trong một vài phút. Tuy nhiên, mẫu đơn xin thị thực của quý vị, nếu được điền đầy đủ, đã bao gồm hầu hết các thông tin cần thiết để xét cấp thị thực. Viên chức Lãnh sự chỉ xem xét các giấy tờ bổ sung khi cần làm sáng tỏ hơn nữa hoàn cảnh của đương đơn.

Thị thực được coi là giấy phép để xin nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Có sự khác biệt giữa hiệu lực của thị thực (có thể kéo dài một năm cho đương đơn quốc tịch Việt Nam) và thời gian đương đơn được phép lưu trú tại Hoa Kỳ (có thể chỉ vài ngày).  Ngày thị thực hết hạn là ngày cuối cùng đương đơn được phép nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Viên chức Bộ An ninh Nội địa tại cửa khẩu, chứ không phải là viên chức Lãnh sự, là người sẽ quyết định thời gian đương đơn được phép lưu lại Hoa Kỳ.  Bộ An ninh Nội địa thường sẽ cho phép đương đơn lưu trú đủ thời gian để hoàn thành mục đích chuyến đi của mình.

Nếu quý vị muốn lưu lại Hoa Kỳ nhiều hơn thời gian đã được cấp phép, quý vị phải nộp đơn xin gia hạn tại Sở Di trú Hoa Kỳ (USCIS).  Bất kỳ ai lưu lại Hoa Kỳ vượt quá thời gian đã được Bộ An ninh Nội địa cấp phép tại cửa khẩu sẽ phải chịu án phạt.  Việc ở quá hạn, dù chỉ một ngày, cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xin thị thực vào Hoa Kỳ trong tương lai.

Quý vị có thể tìm thấy câu trả lời tại trang web của Cục Hải quan và Tuần tra Biên giới Hoa Kỳ về việc đi đến các quốc gia khác trong thời gian ở tại Hoa Kỳ bằng thị thực B1 hoặc B2.

Viên chức Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ (DHS) tại cửa khẩu, không phải viên chức Lãnh Sự, sẽ quyết định thời gian đương đơn được phép lưu trú tại Hoa Kỳ. Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ thường cho phép đương đơn ở lại Hoa Kỳ trong thời gian cần thiết để hoàn thành mục đích của chuyến đi. Tuy nhiên, nếu đương đơn ở lại Hoa Kỳ lâu hơn thời gian đã trình bày tại buổi phỏng vấn xin thị thực, điều này có thể ảnh hưởng đến các đơn xin thị thực trong tương lai của đương đơn.

Thị thực du lịch được cấp cho đương đơn lưu trú ngắn ngày vì mục đích thương mại hoặc giải trí.  “Thương mại” ở đây không bao gồm việc đi làm có thu nhập, mà chỉ gồm những hoạt động hợp pháp có liên quan đến kinh doanh.  Một đương đơn với thị thực du lịch B-1 có thể gặp gỡ đối tác, đàm phán hợp đồng, mua hàng hóa vật liệu, thành lập cơ sở kinh doanh, xuất hiện tại tòa án như một nhân chứng, tham dự các hội nghị hoặc sự kiện thương mại, hoặc tiến hành các nghiên cứu độc lập.  “Giải trí” ở đây thường bao gồm các mục đích như du lịch, thăm bạn bè hay người thân, điều trị y khoa, tham dự các hội nghị hay sự kiện, lễ hội của các tổ chức xã hội hoặc hữu nghị, hoặc tham gia không chuyên nghiệp (không nhận thù lao) vào các hoạt động âm nhạc, thể thao, hoặc các cuộc thi và sự kiện tương tự.

Tại buổi phỏng vấn, quý vị nên trình bày rõ ràng mục đích của chuyến đi đến Hoa Kỳ.  Viên chức sẽ xác định loại thị thực phù hợp cho quý vị.

Thông thường, đương đơn có thể nộp đơn xin thị thực không định cư tại bất kỳ Đại sứ quán hay Lãnh sự quán Hoa Kỳ nào. Tuy nhiên, nếu đương đơn chọn nộp đơn xin thị thực tại Đại sứ quán hay Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở quốc gia nơi mình không cư trú,  vui lòng lưu ý đến yếu tố rào cản ngôn ngữ cũng như việc viên chức phỏng vấn không am hiểu hoàn cảnh địa phương tại nơi cư trú của đương đơn . Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho đương đơn trong việc chứng minh mình hội đủ điều kiện được cấp thị thực.

Theo tiêu chuẩn qui định toàn cầu, bất kỳ đơn xin thị thực không định cư nào, một khi đã bị từ chối theo Điều khoản 214(b), sẽ không được xem xét hoặc cứu xét lại; không có thủ tục khiếu nại cho điều khoản này. Tuy nhiên, đương đơn có thể xin phỏng vấn lại vào bất cứ thời gian nào sau đó, các hồ sơ xin thị thực không định cư mới sẽ được nộp và xem xét lại do một viên chức Lãnh sự khác. Đương đơn phải làm lại toàn bộ các thủ tục tương tự như lần phỏng vấn đầu tiên, bao gồm đóng lại lệ phí xin cấp thị thực và đăng ký ngày hẹn phỏng vấn mới. Xin lưu ý rằng chúng tôi luôn khuyến cáo các đương đơn đã hơn một lần bị từ chối trong vòng 6 tháng KHÔNG nên nộp đơn phỏng vấn lại trừ phi hoàn cảnh của đương đơn có thay đổi đáng kể, nếu không, kết quả cũng sẽ không thay đổi.

Đương đơn không cần xin lại thị thực khác mà có thể mang theo hộ chiếu cũ và hộ chiếu mới để xin nhập cảnh Hoa Kỳ.

Đương đơn không nên mua vé máy bay trước khi được cấp thị thực. Vui lòng không sắp xếp bất kỳ kế hoạch cố định nào cho đến khi nhận được thị thực.

Thời gian hiệu lực của thị thực không định cư Hoa Kỳ được dựa trên chính sách tương hỗ giữa hai nước (có nghĩa là tùy thuộc vào hiệu lực của cùng loại thị thực mà nước đó cấp cho công dân Hoa Kỳ). Hiện nay chúng tôi đang cấp thị thực hầu hết có hiệu lực trong 12 tháng cho các công dân Việt Nam. Để biết thêm thông tin về thời hạn hiệu lực của thị thực Hoa Kỳ dành cho công dân Việt Nam, vui lòng xem trang chính sách tương hỗ thị thực và chọn “TẤT CẢ” hoặc chọn một loại thị thực không định cư Hoa Kỳ cụ thể.

Quý vị có thể xem thêm các thông tin khác về chính sách tương hỗ ở mục Chính sách tương hỗ về thị thực không định cư Hoa Kỳ.

Đương đơn không thể sửa đổi thông tin trên đơn DS-160 đã nộp. Để sửa thông tin, vui lòng điền và nộp lại đơn DS-160 mới. Sau khi hoàn tất mẫu đơn DS-160 mới, đương đơn cần truy cập vào tài khoản ustraveldocs để cập nhật mã vạch trên mẫu đơn DS-160 mới cho cuộc hẹn phỏng của mình vấn ít nhất 3 ngày trước ngày phỏng vấn, và in Giấy xác nhận cuộc hẹn phỏng vấn đã được cập nhật.

Có thể. Đương đơn có thể lấy lại mẫu đơn DS-160 của mình nếu nhớ số ID của mẫu đơn. Hệ thống sẽ lưu thông tin trong 30 ngày. Đương đơn có thể xem thêm thông tin về mẫu đơn DS-160 tại đây.

Có, kể cả khi bạn có thẻ APEC, bạn vẫn cần xin thị thực để vào Hoa Kỳ.  Thẻ APEC không  thể dùng để thay thế cho thị thực Hoa Kỳ.  Việc sở hữu thẻ APEC không ảnh hưởng gì đến các qui định về xin thị thực, tiến trình cấp thị thực hay tiêu chuẩn để được cấp thị thực Hoa Kỳ.

Không có ưu tiên đặc biệt nào dành cho người có thẻ APEC. Tất cả các đương đơn xin thị thực, kể cả những người có thẻ APEC có thể xem hướng dẫn quy trình xin thị thực tại trang web https://vn.usembassy.gov/visas/nonimmigrant-visas hoặc  http://ustraveldocs.com/vn/vn-niv-visaapply.asp.

Vui lòng thông báo việc mất hộ chiếu có thị thực Hoa Kỳ cho Phòng Lãnh sự của Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán, nơi cấp thị thực cho bạn. Vui lòng ghi chi tiết về việc mất hộ chiếu có thị thực và gửi kèm biên bản báo mất nếu có. Sau khi bạn thông báo về việc mất hộ chiếu và thị thực cho cơ quan Lãnh sự, thị thực đó sẽ hết hiệu lực và không thể sử dụng để vào Hoa Kỳ.

Nếu bạn muốn thay đổi địa điểm phỏng vấn, bạn không cần điền đơn DS-160 mới. Đại sứ quán và Lãnh sự quán có thể sử dụng mã xác nhận đơn DS-160 để truy cập mẫu đơn của bạn. Bạn phải mang theo tờ xác nhận đơn DS-160 đến buổi phỏng vấn. Tuy nhiên, việc truy cập đơn DS-160 từ một địa điểm khác có thể mất nhiều thời gian. Do đó, việc xử lý hồ sơ của bạn có thể sẽ bị trì hoãn khi bạn đến phỏng vấn. Chúng tôi không biết trước thời gian trì hoãn là bao lâu.